Tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của Bộ luật TTHS 2015

Điều 124 BLTTHS 2015 quy định như sau:

1.Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:

a/ Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;

b/ Bị can, bị cáo.

Theo quy định này, biện pháp ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh có thể được áp dụng với hai loại đối tượng:

-Thứ nhất: Bị can, bị cáo;

-Thứ hai: Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn.

Đối với loại đối tượng này cần phải đáp ứng hai yếu tố sau:

+ Có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm

+ Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Đi sâu phân tích về điều kiện, đối tượng và thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thấy các quy định của BLTTHS 2015 còn mâu thuẫn, cụ thể:

1.Đối tượng áp dụng

-Tạm hoãn xuất cảnh là một biện pháp ngăn chặn trong Chương VII của BLTTHS 2015. Tuy nhiên, Điều 109 BLTTHS 2015 lại xác định điều kiện, đối tượng để áp dụng biện pháp ngăn chặn như sau:

1.Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.

Theo quy định này, đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là người bị buộc tội khi có đủ các điều kiện: Có căn cứ chứng tỏ họ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án và trường hợp để kịp thời ngăn chặn tội phạm.

-Điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 quy định:

Người bị buộc tội gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, theo đó: Người bị buộc tội không quy định người bị tố giác, kiến nghị khởi tố.

Nếu người bị tố giác, kiến nghị khởi tố đã thực hiện xong hành vi vi phạm (không còn căn cứ để kịp thời ngăn chặn tội phạm), thì theo quy định của hai điều luật này (Điều 109 và Điều 4) họ không phải là đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Như vậy, Điều 124 BLTTHS 2015 đang mâu thuẫn với Điều 109 và Điều 4 BLTTHS 2015.

Để đảm bảo thống nhất trong BLTTHS 2015, cần sửa đổi Điều 109 theo hướng mở rộng đối tượng có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.

2.Thời hạn áp dụng

Khoản 3 Điều 124 BLTTHS 2015 quy định: Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này...

Điều 147 BLTTHS 2015 quy định: Thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm là 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trường hợp vụ việc bị tố giác, báo tin về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài không quá 02 tháng, trường hợp cần thiết có thể gia hạn một lần không quá 02 tháng. Hết thời hạn nêu trên, cơ quan có thẩm quyền phải ra một trong các quyết định sau: quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

+ Đối với trường hợp khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự, hậu quả pháp lý là rất rõ ràng, theo đó, việc xem xét tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm hoãn xuất cảnh hay không sẽ có đầy đủ căn cứ và thuận lợi cho người thực hiện.

+ Đối với trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố cần phải xem xét thận trọng để hiểu và áp dụng thống nhất trên thực tiễn.

Điều 148 BLTTHS 2015 quy định: Chỉ được quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi hết thời hạn quy định tại Điều 147 nếu thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;

b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả.

Khoản 3 Điều 148 BLTTHS 2015 cũng quy định:

3. Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả.

Hiện nay vẫn có nhiều cách hiểu về thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Khoản 3 Điều 148 BLTTHS 2015 đã quy định: Khi tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, việc giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả nên có thể hiểu rằng, thực tế, việc xác minh vẫn đang được tiếp tục. Do đó, vẫn có thể tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, để đảm bảo tính liên tục và hiệu quả cao nhất. Để tránh trường hợp trong thời gian tạm đình chỉ để chờ kết quả giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp, những đối tượng này sẽ lợi dụng sơ hở xuất cảnh để bỏ trốn, dẫn đến khi đã phục hồi việc giải quyết thì không thể triệu tập họ để làm việc.

BLTTHS 2015 đã quy định thời hạn cụ thể cho các hoạt động tố tụng nói chung và cho việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng. Do đó, cũng như tất cả các quy định khác về tố tụng, thời hạn này cần phải được tuyệt đối tôn trọng mới đảm bảo giá trị của những tài liệu, chứng cứ thu thập được. Vì vậy, khi đã tạm đình chỉ việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, phải coi là thời hạn giải quyết đã hết và phải chấm dứt việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm hoãn xuất cảnh đối với người đang bị áp dụng. Đây cũng là một trong những yêu cầu cao của tinh thần cải cách tư pháp, buộc Cơ quan tiến hành tố tụng phải hết sức thận trọng, cân nhắc khi quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị tố giác, kiến nghị khởi tố.

Phòng 12

 

THƯ VIỆN ẢNH
No title... No title... No title...
VIDEO
Chi đoàn VKSND tỉnh - Quán quân "Vũ điệu trẻ" 2015













Thống kê truy cập
  • Đang online: 23
  • Hôm nay: 188
  • Trong tuần: 6 163
  • Tất cả: 688654


TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐĂK NÔNG
Giấy phép số QĐ Số 14/QĐ-VKSTC ngày 15/01/2004 của Viện trưởng VKSND tối cao
Chịu trách nhiệm chính: NGUYỄN VĂN CƯỜNG, Viện trưởng VKSNDT Đăk Nông
Địa chỉ: đường Lê Duẩn (Đăm Bri cũ), P. Nghĩa Tân, TX. Gia Nghĩa, Đăk Nông
Điện thoại: 02613 543523 - Fax: 02613 543523
Email: Banbientap.vksdaknong@gmail.com