Kiện đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - áp dụng tương tự pháp luật hay áp dụng “lẽ công bằng” để giải quyết
Qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự trong thời gian qua, đơn vị nhận thấy vụ án “Kiện đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đang có hai luồng ý kiến trong giải quyết vụ án: Một là, áp dụng tương tự pháp luật; hai là, áp dụng “lẽ công bằng”. Đơn vị nêu ra để cùng thảo luận.

Trước khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực pháp luật thì tranh chấp về đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng không được Tòa án thụ lý theo hướng dẫn tại Công văn số 141/TANDTC-KHXX về việc thẩm quyền giải quyết các yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản của Tòa án nhân dân tối cao ngày 21/9/2011. 

Tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015 quy định:
...
“2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định”.

Từ Điều 43 đến Điều 45 BLTTDS năm 2015 quy định về giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, trong đó Điều 43 quy
định “Nguyên tắc xác định thẩm quyền của Tòa án trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng”; Điều 44 quy định “Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng”; Điều 45 quy định “Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng”.

Đối với quan điểm áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ án thì xác định quan hệ tranh chấp là đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và căn cứ khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 nhận định quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp có hàm chứa một số quyền về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. BLDS 2015 và BLTTDS 2015 chưa có quy định nào để giải quyết các tranh chấp về đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có tập quán nào để giải quyết về tranh chấp này, do vậy căn cứ vào Điều 3 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 45 BLTTDS 2015 áp dụng các quy định tương tự về tài sản để giải quyết tranh chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với quan điểm áp dụng
“lẽ công bằng” để giải quyết vụ án thì cho rằng cần xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý, không phải là tài sản, không thể áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết mà phải căn cứ khoản 2 Điều 6 BLDS 2015, khoản 3 Điều 45 BLTTDS 2015 áp dụng “lẽ công bằng” để giải quyết vụ án. 

Người viết đồng tình với quan điểm áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ án
“Kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Trước khi phân tích cụ thể đối với việc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ án
“Kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, chúng ta cùng tìm hiểu rõ hơn về áp dụng tương tự pháp luật.

Theo PGS, TS. Nguyễn Thị Hồi (Đại học Luật Hà Nội) thì áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó. Với cách hiểu này, ta thấy, áp dụng pháp luật tương tự vừa mang các đặc điểm của áp dụng pháp luật nói chung vừa có những đặc điểm riêng làm cho nó khác với các trường hợp áp dụng pháp luật khác. Nếu như áp dụng pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể trên cơ sở quy pháp pháp luật trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó nhằm cá biệt hoá quy phạm pháp luật đó vào trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể thì áp dụng pháp luật tương tự lại là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể khi trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó, tức là không có khuôn mẫu trực tiếp do nhà nước quy định cho việc giải quyết vụ việc đó. Vì thế, áp dụng pháp luật tương tự chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định nhằm hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của người áp dụng.

Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động rất cần thiết trong cuộc sống nhằm khắc phục tất cả các chỗ trống của pháp luật, để điều chỉnh cụ thể đối với tất cả các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật nhưng lại chưa có pháp luật để điều chỉnh, bất kể đó là trường hợp chưa có nhu cầu điều chỉnh khi ban hành pháp luật (tức là khi đó quan hệ xã hội chưa xuất hiện) hay trường hợp cần được điều chỉnh nhưng những người ban hành pháp luật chưa nhận thức ra được hay quan hệ xã hội đó chỉ là ngoại lệ, bất thường, chỉ xảy ra một vài lần trong cuộc sống. Nó cần thiết không chỉ cho riêng một quốc gia nào vì với điều kiện phức tạp và đầy biến động của đời sống xã hội thì khó có hệ thống pháp luật của quốc gia nào đủ khả năng điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật, kể cả khi có trình độ phát triển tương đối cao. Bên cạnh tác dụng trên, áp dụng pháp luật tương tự còn có tác dụng khác nữa là tạo điều kiện tích lũy kinh nghiệm giải quyết các vụ việc thực tế cho các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật, đồng thời trên cơ sở đó có thể đề xuất giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

Áp dụng pháp luật tương tự cũng rất đa dạng, song khái quát lại có thể chia thành hai hình thức (hai loại) cơ bản là áp dụng tương tự quy phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật. Có thể phân biệt được hai hình thức này với nhau khi xem xét cụ thể về từng hình thức.

Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật:

Từ khái niệm áp dụng pháp luật tương tự đã nêu, có thể hiểu áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy.

Việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật chỉ có thể được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định. Đó là những điều kiện sau đây:

Thứ nhất,
chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc, tức là vụ việc đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Hay nói cách khác, đó là quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật bởi vì nó liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân. Nếu vụ việc không có tính chất pháp lý thì đương nhiên các chủ thể có thẩm quyền không cần thụ lý và giải quyết.

Thứ hai,
chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó (vì có như vậy thì mới có thể được phép áp dụng pháp luật tương tự) nhưng có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy (vì khi đó mới có thể áp dụng tương tự quy phạm pháp luật). Đồng thời, phải xác định được một cách cụ thể quy phạm tương tự đó nằm trong điều khoản nào của văn bản quy phạm pháp luật nào để có thể coi đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết vụ việc của mình.

Trong lĩnh vực dân sự, việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật chính thức được ghi nhận tại Điều 14 Bộ luật dân sự năm 1995, Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015.

Bên cạnh hình thức áp dụng trên trong thực tế còn có trường hợp có vụ việc có tính chất pháp lý xảy ra, có liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cần phải được giải quyết song song trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó và cũng không có quy phạm pháp luật điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy. Khi đó, các chủ thể có thẩm quyền sẽ phải giải quyết bằng cách áp dụng tương tự pháp luật.

Áp dụng tương tự pháp luật

Là một hình thức áp dụng pháp luật tương tự, có thể hiểu: Áp dụng tương tự pháp luật là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của pháp luật và ý thức pháp luật.

Khi tiến hành giải quyết một vụ việc có tính chất pháp lý, vì trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào có thể dựa vào để giải quyết, kể cả quy
  phạm trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó lẫn quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy thì các chủ thể có thẩm quyền phải giải quyết bằng cách áp dụng tương tự pháp luật.

Việc áp dụng tương tự pháp luật đòi hỏi sự sáng tạo rất cao của người áp dụng, song cũng rất dễ dẫn đến sự tuỳ tiện của người áp dụng, vì vậy, nó chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định. Điều kiện thứ nhất tương tự như của hình thức áp dụng tương tự quy phạm pháp luật, tức là chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc vì nếu vụ việc không có tính chất pháp lý thì không cần giải quyết. Còn điều kiện thứ hai thì khác, cụ thể là chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong hệ thống pháp luật không có quy phạm pháp luật nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó (bởi vì nếu có thì đương nhiên phải áp dụng pháp luật) và cũng không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy (vì nếu có thì phải áp dụng tương tự quy phạm pháp luật).

Nói chung, sự phân định thành hai hình thức áp dụng pháp luật tương tự như trên dường như chủ yếu có ý nghĩa về mặt lý luận và chỉ được đề cập đến trong khoa học pháp lý, còn trong pháp luật thực định của nước ta thì không có sự phân định này. Cụ thể, trong pháp luật dân sự Việt Nam, hai cụm từ “áp dụng quy định tương tự của pháp luật”“áp dụng tương tự pháp luật” được dùng đồng nghĩa với nhau. Điều này được thể hiện rõ trong việc đặt tên hai điều luật đề cập đến vấn đề này trong hai bộ luật dân sự của nước ta. Cụ thể, Điều 14 Bộ luật dân sự năm 1996 được đặt tên là “Nguyên tắc áp dụng tập quán, áp dụng tương tự pháp luật”, còn Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2005 lại được đặt tên là: “Áp dụng tập quán, quy định tương tự của pháp luật”, Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 được ghi nhận “Áp dụng tương tự pháp luật” với nội dung như đã nêu.

Hai điều luật trên không chỉ quy định về việc áp dụng tương tự quy phạm pháp luật mà còn quy định về việc áp dụng tập quán trong quá trình giải quyết các vụ việc thực tế của các chủ thể có thẩm quyền. Theo các quy định này thì có thể thấy, khi giải quyết các vụ việc pháp lý cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền chủ yếu áp dụng quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, bên cạnh đó, họ còn có thể áp dụng tập quán và áp dụng pháp luật tương tự. Tập quán nào được các chủ thể có thẩm quyền áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc thực tế thì sẽ trở thành tập quán pháp - một trong các hình thức cơ bản của pháp luật.
  

Trở lại với việc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ án
“Kiện đòi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, như đã phân tích ở trên.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 thì:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.

Điều 115 BLDS 2015 quy định:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”.

Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013 quy định:
“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

BLDS năm 2015 và Luật đất đai năm 2013 không thừa nhận GCNQSD đất là tài sản mà chỉ là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sở hữu đất nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chứa đựng quyền về tài sản. Cả hai BLDS năm 2005 và BLDS 2015 đều quy định quyền tài sản là tài sản, mà không xác định quyền tài sản thuộc bất động sản hay động sản. Điều 115 BLDS 2015 quy định
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền”. Quy định này như một giải pháp để giải quyết một loại quyền là quyền sử dụng đất. Như chúng ta đã biết, theo quy định của Hiến pháp thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Vì thế người có quyền sử dụng đất là người sở hữu một loại quyền trên đất đai. Đây là quy định rất độc lập, đặc thù ở Việt Nam về đất đai.

Từ đó, căn cứ vào Điều 3, khoản 1 Điều 6 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 45 BLTTDS 2015 áp dụng các quy định tương tự về tài sản để giải quyết tranh chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp.

Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào về việc áp dụng pháp luật như thế nào để giải quyết tranh chấp kiện đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, trong thời gian tới rất cần được các cấp ngành Trung ương thống nhất hướng dẫn cụ thể./.

Phòng 9

THƯ VIỆN ẢNH
No title... No title... No title...
VIDEO
Chi đoàn VKSND tỉnh - Quán quân "Vũ điệu trẻ" 2015













Thống kê truy cập
  • Đang online: 32
  • Hôm nay: 1169
  • Trong tuần: 8 781
  • Tất cả: 662736


TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐĂK NÔNG
Giấy phép số QĐ Số 14/QĐ-VKSTC ngày 15/01/2004 của Viện trưởng VKSND tối cao
Chịu trách nhiệm chính: NGUYỄN VĂN CƯỜNG, Viện trưởng VKSNDT Đăk Nông
Địa chỉ: đường Lê Duẩn (Đăm Bri cũ), P. Nghĩa Tân, TX. Gia Nghĩa, Đăk Nông
Điện thoại: 02613 543523 - Fax: 02613 543523
Email: Banbientap.vksdaknong@gmail.com