Lượt xem: 2140
Bàn về quyết định truy tố trong trường hợp bị can khiếu nại bản kết luận điều tra
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về quyết định truy tố bị can và thời hạn quyết định việc truy tố cơ bản hoàn thiện, tuy nhiên trong thực tiễn thi hành vẫn còn một số vướng mắc trong trường hợp bị can khiếu nại bản kết luận điều tra vụ án, họ cho rằng kết luận điều tra là chưa khách quan, toàn diện, có dấu hiệu oan, sai.

1. Quy định của BLTTHS về quyết định truy tố bị can và thời hạn quyết định việc truy tố

 

 Điều 240 BLTTHS như sau:

 

 1. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:

 

 a) Truy tố bị can trước Tòa án;

 

 b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;

 

 c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.

 

 Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng……

 

 Như vậy thời hạn tối đa Viện kiểm sát được sử dụng để ban hành một trong các quyết định trên đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng là 30 ngày, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 45 ngày.

 

 Điều 243 BLTTHS như sau:

 

 Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.

 

 Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án……

 

 Khi ban hành bản cáo trạng, Viện kiểm sát căn cứ các điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và Căn cứ Bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra.

 

 Điều 232 BLTTHS như sau:

 

 1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.

 

 2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

 

 3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.

 

 4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

 

 Như vậy, trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cho bị can.

 

 2. Quy định của BLTTHS về khiếu nại và giải quyết khiếu nại

 

 Khoản 1 Điều 469 BLTTHS như sau:

 

 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

 

 Điều 471 BLTTHS như sau:

 

 1. Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.

 

 2. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

 

 Khoản 1 Điều 475 BLTTHS như sau:

 

 1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trừ khiếu nại về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.

 

 Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nếu việc giải quyết khiếu nại lần đầu do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh giải quyết. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.

 

 Điều 482 BLTTHS như sau:

 

 1. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo và gửi văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho người đã khiếu nại, tố cáo …..

 2. …...

 

 Theo các quy định trên thì thời hạn tối đa để khiếu nại lần thứ nhất là 15 ngày, lần thứ hai là 03 ngày (tổng cộng là 18 ngày). Thời hạn tối đa để giải quyết khiếu nại lần thứ nhất là 07 ngày, lần thứ hai là 07 ngày (tổng cộng là 14 ngày).

 

 Như vậy cả thời hạn khiếu nại và thời hạn giải quyết khiếu nại là 32 ngày, vượt quá thời hạn tối đa được sử dụng để truy tố bị can.

 

 Ví dụ cụ thể:

 

 Ngày 01/9/2020 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ ban hành bản kết luận điều tra số 01 đề nghị Viện KSND tỉnh Đ truy tố Nguyễn Văn A về tội Hủy hoại tài sản, theo quy định tại khoản 2 Điều 178 BLHS (bản kết luận điều tra do Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT ký). Điều tra viên tống đạt trực tiếp bản KLĐT cho bị can A vào ngày 02/9/2020. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT chuyển vụ án đến Viện kiểm sát để truy tố theo quy định.

 

 Ngày 16/9/2020 bị can A nộp đơn khiếu nại bản KLĐT (Cơ quan CSĐT nhận ngày 20/9/2020 qua đường bưu chính).

 

 - Thụ lý giải quyết khiếu nại của bị can A

 

 Theo quy định tại Điều 471, khoản 1 Điều 475 thì Cơ quan CSĐT phải thụ lý để giải quyết khiếu nại của bị can A vào ngày 20/9/2020 (chậm nhất đến ngày 27/9/2020 Cơ quan CSĐT phải ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu). Ngày 26/9/2020 Thủ trưởng Cơ quan CSĐT ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (bị can nhận được quyết định giải quyết ngày 28/9/2020).

 

 Ngày 30/9/2020 bị can A tiếp tục khiếu nại đến Viện trưởng VKS tỉnh Đ (VKS nhận đơn ngày 03/10/2020).

 

Ngày 03/10/2020 Viện kiểm sát tỉnh Đ đã thụ lý giải quyết khiếu nại.

 

 Do bị can A khiếu nại kêu oan nên VKS phải lập kế hoạch và tiến hành xác minh dẫn đến thời hạn giải quyết dài (hết 7 ngày) đến ngày 10/10/2020 VKS tỉnh Đ ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần thứ hai, không chấp nhận đơn khiếu nại của bị can A, giữ nguyên quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan CSĐT (QĐ có hiệu lực thi hành).

 

 Như vậy từ ngày Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát (ngày 02/9/2020) cho đến khi giải quyết xong khiếu nại của bị can A (ngày 10/10/2020) là 38 ngày (vượt quá thời hạn truy tố quy định tại Điều 240 BLHS).

 

 Trong trường hợp bị can khiếu nại bản kết luận điều tra của Thủ trưởng Cơ quan CSĐT cấp huyện sau đó Viện trưởng VKS cấp huyện giải quyết lần thứ nhất, Viện trưởng VKS cấp tỉnh giải quyết lần thứ hai thì thời hạn còn kéo dài hơn.

 

 Tại khoản 1 Điều 8 Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT- VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng, Bộ tài chính, Bộ NN&PTNT quy định việc phối hợp thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo (TTLT 02/2018) quy định:

 

 Trường hợp khiếu nại thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch này mà không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại thì được thực hiện theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

 

 Tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định:

 

 1. Khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

 

 a)…

 

 p) Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.

 

 Như vậy, trong thời hạn truy tố nếu khiếu nại của bị can mà không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại thì Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT để điều tra bổ sung.

 

 Vậy trong trường hợp Cơ quan CSĐT đã giải quyết lần thứ nhất, bị can tiếp tục khiếu nại và Viện kiểm sát đang giải quyết khiếu nại lần thứ hai, tuy nhiên thời hạn truy tố đã hết thì Viện kiểm sát có được ban hành quyết định truy tố hay không. Vấn đề này hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể, còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc áp dụng pháp luật. Qua thực tiễn cho thấy một số đơn vị vẫn ban hành quyết định truy tố khi chưa giải quyết xong khiếu nại của bị can.

 

 Quan điểm của tác giả cho rằng việc ban hành quyết định truy tố trong trường hợp này là không có căn cứ vì không thể căn cứ vào bản kết luận điều tra chưa có hiệu lực pháp luật để truy tố bị can, điều này đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can đã được pháp luật quy định.                 

 

 Từ những phân tích trên, để hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như đảm bảo sự khách quan trong hoạt động tố tụng trong giải quyết vụ án, giải quyết khiếu nại, tác giả kiến nghị các cơ quan liên ngành trung ương sớm có hướng dẫn để tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác này.

 

 Nguyễn V Tám       

Phòng TTKT – VKS Đắk Nông

THÔNG BÁO
THƯ VIỆN ẢNH
No title... No title... No title...
VIDEO
Chi đoàn VKSND tỉnh - Quán quân "Vũ điệu trẻ" 2015

 

 

 

 

 

 

 

 

 






Thống kê truy cập
  • Đang online: 10
  • Hôm nay: 485
  • Trong tuần: 4 625
  • Tất cả: 1397030